....và đó, chứ không phải công nghệ, mới là điều chúng ta nên lo sợ.
Các nghệ sĩ đang biểu tình phản đối, các vụ kiện ngày càng chồng chất, và “AI slop” (rác AI) đã trở thành một câu chửi cửa miệng. Nhưng tôi nghĩ phần lớn sự phản kháng này đang nhắm sai mục tiêu, bởi nó coi bản thân công nghệ là mối đe dọa, như thể vấn đề nằm ở chỗ máy móc đang xâm nhập vào một không gian vốn thuộc về con người. Sự thật là nghệ thuật chưa bao giờ an toàn trước công nghệ mới, và cũng chưa bao giờ cần phải như vậy. Nghệ thuật luôn phản ứng với thế giới xung quanh nó, và luôn bị thay đổi bởi những biến chuyển xã hội, tiến bộ công nghệ cùng sự phá vỡ của các khuôn mẫu cũ. Công nghệ mới mang đến cho nghệ sĩ những hình thức biểu đạt mới, và lịch sử phản kháng lại chúng thì dài dằng dặc. Nhiếp ảnh (chẳng hạn) từng bị chê bai là máy móc, vô hồn và không xứng đáng được gọi là nghệ thuật, để rồi cuối cùng lại trở thành một trong những điều tuyệt vời nhất từng xảy ra với nghệ thuật.
Những công nghệ này không chỉ thay đổi diện mạo của nghệ thuật, mà còn thay đổi cả việc ai được phép tham gia. Nhiếp ảnh giúp nghệ thuật trở thành tấm gương phản chiếu toàn xã hội và biến nó thành một hiện tượng mang tính cộng đồng. Nó đưa cuộc sống đời thường, những con người bị lãng quên và cả những thực tại gai góc vào khung hình, biến nghệ thuật thành một không gian chung. Nhờ đó, những trào lưu lẽ ra chẳng có cơ hội tồn tại vì bị xem là quá “tầm thường” hoặc quá “chính trị” đã có đất để nảy mầm. Dân chủ hóa mang lại sự đa dạng, và sự đa dạng ấy đã đập tan tầm nhìn hẹp hòi của tầng lớp tinh hoa — những kẻ đã độc chiếm bức tranh thế giới trong suốt một thời gian quá dài.
Mọi công nghệ lớn trước AI đều đi theo hướng đó, vì một lý do: mỗi thứ đều là công cụ, và mọi công cụ vẫn cần đến con người. Một con người có cuộc đời riêng, có góc nhìn riêng và có điều muốn nói, đứng ở một vị trí cụ thể, kể câu chuyện của mình và bộc lộ cảm xúc. Công nghệ mở rộng danh sách những người có thể hành động, nhưng bản thân hành động ấy vẫn là của con người!
Đây chính là lúc AI tạo sinh phá vỡ quy luật, và mối nguy hiểm không nằm ở sự tồn tại của cỗ máy, mà ở những gì nó làm với quyền tác giả. Đặc điểm cốt lõi của nó là khả năng tạo ra những sản phẩm sáng tạo phức tạp, đa dạng chỉ từ một câu lệnh cấp cao duy nhất, trong khi con người gần như không phải nhúng tay vào khâu thực thi. Đúng, bạn có thể lập luận rằng việc viết prompt, lựa chọn và tinh chỉnh cũng là những quyết định sáng tạo, và ở một mức độ nào đó thì đúng là vậy. Nhưng chúng cách xa tác phẩm hoàn toàn so với việc soạn nhạc, canh khung hình hay cầm cọ vẽ. Nhiếp ảnh, với tư cách một công nghệ, đã dân chủ hóa sự tham gia: nhiều người hơn có thể làm nghệ thuật từ chính trải nghiệm của mình. Còn AI dân chủ hóa đầu ra: có nhiều hình ảnh hơn, trong khi hành động sáng tạo của con người co cụm lại chỉ còn là một lời yêu cầu. Hai chuyện đó không hề giống nhau, và chính sự nhầm lẫn này khiến người ta đánh đồng câu “giờ ai cũng có thể tạo ra hình ảnh” với sự dân chủ hóa.
Một khi hành động sáng tạo có thể bị bỏ qua, nghệ thuật sẽ tách làm hai. Một bên là khu vực thương mại ồn ào, tốc độ, nơi hình ảnh AI tuôn ra rẻ mạt và vô tận. Bên kia là khu vực nghệ thuật đỉnh cao sẽ trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nơi sự không hoàn hảo và yếu tố con người được tôn vinh như những đặc quyền. Những gì không bị dân chủ hóa sẽ lại tăng giá trị. Những gì do con người làm ra trở thành hàng xa xỉ. Và tầng lớp tinh hoa từng bị sự dân chủ hóa nghệ thuật gạt ra rìa nay sẽ quay lại, không phải bằng cách cấm người khác dùng công nghệ, mà bằng cách sở hữu thứ duy nhất mà công nghệ không thể cung cấp.
Đây là vùng đất chưa ai khai phá, và nó buộc chúng ta phải đối mặt với một câu hỏi chưa từng có tiền lệ. Ranh giới giữa biểu đạt của con người và đầu ra của máy móc chưa bao giờ mờ nhạt đến thế. Khi nghệ thuật trở thành sản phẩm đại trà, mất giá đến mức gần như bằng không, giá trị không thể nằm ở chính tác phẩm nữa. Vậy nó nằm ở đâu? Chừng nào chỉ con người mới làm được nghệ thuật, ta chưa bao giờ phải trả lời câu đó. Giờ thì ta phải trả lời. Nếu giá trị không còn nằm ở đầu ra, nó phải nằm ở thứ mà đầu ra không thể giả vờ: sự tổn thương, trải nghiệm sống thực sự, rủi ro thật, niềm tin cá nhân mà ai đó dốc trọn vào tác phẩm. Tôi không có câu trả lời trọn vẹn, và tôi nghi ngờ rằng chẳng ai trong chúng ta có. Nhưng nếu ta không nói rõ được con người bổ sung thêm điều gì, thị trường sẽ quyết định thay ta, mà thị trường thì chưa bao giờ biết sentimental. Cỗ máy sẽ không bao giờ tự hỏi nghệ thuật sinh ra để làm gì. Chúng ta phải hỏi, trước khi điều đó không còn quan trọng nữa.





